ngobadung

1 tháng 5, 2024

Trên đường Phan Châu Trinh Tam Kỳ- Quảng Nam năm 1971. Tấm ảnh của Earl Powers


Trên đường Phan Châu Trinh Tam Kỳ- Quảng Nam đã 55 năm.
    Sau 1975 tôi nhớ mỗi lần vô Nam bằng xe đò, xe chạy xuyên con đường nầy. Cảm giác của tôi lúc đó như thấy trong ảnh, đường phố nhỏ hẹp, xe chạy sát nhà dân hai bên đường. Con đường Phan Châu Trinh nầy là "xương sống" của thị xã Tam Kỳ xưa.
     Bảng hiệu xưa được sơn bằng tay nhưng chữ viết rất sắc, đẹp và bền màu. Hiệu uốn tóc Tự Nhiên nầy vẫn còn hoạt động cho đến những năm 2000.
    Tủ sửa đồng hồ vỉa hè ngoài việc sửa còn bán đồng hồ đã qua sử dụng nữa. (bán - sửa có ghi)
Hồi đó toàn đồng hồ xịn của Nhật. Không có đồ dõm nhiều như bây giờ!
                   Tác giả tấm ảnh Earl Powers

Đà Nẵng trước ngày 29 tháng 03 năm 1975 - ảnh của Jack Cahill

Đà Nẵng những ngày cuối tháng ba 49 năm trước.
     Thị xã chỉ từ vài trăm ngàn dân đã tăng vọt lên trên một triệu người do từ các nơi dồn về.
     Khung cảnh trong ảnh người người tập trung dưới lòng đường Trần Hưng Đạo bên hông Chợ Hàn (tức Nguyễn Thái Học ngày nay).
      Ảnh chụp vào sáng 28.3.1975 lòng đường toàn người với người. (Nhưng theo tôi, căn cứ vào hình ảnh thì bức ảnh nầy đã chụp trước đó hơn 01 tuần)
      Các ngã đường từ Huế, Quảng Trị, Quảng Nam về Đà Nẵng đã bị chia cắt. Pháo kích, trộm cướp hổn loạn khắp nơi khi thị xã Đà Nẵng rơi vào tình trạng vô chính phủ.
     Trước đó vài hôm, gia đình cậu tôi ở Phước Tường xuống tàu di tản vô Sài Gòn nhưng chúng tôi ở Đà Nẵng không biết tin tức về gia đình cậu ấy. Mẹ tôi biểu xuống bệnh viện Đà Nẵng xem thử.
     Tôi vào nhà xác thấy nhiều xác đen thui được đắp chiếc drap nằm dưới sàn lòi chân, lòi tay.
    Vài người cũng đến như tôi như tôi nhưng không ai dám mở tấm drap để xem. Vì có mở cũng không nhận diện được!
     Tôi đành về báo: Không có!
        Ảnh của Jack Cahill

PHƯỚC TƯỜNG, ĐÀ NẴNG 1970 - TẤM ẢNH CỦA ROBERT ALEXANDRE

PHƯỚC TƯỜNG, ĐÀ NẴNG 1970.
      Các "chú" học trò trường Lê Bảo Tịnh (nay là PTCS Nguyễn Đình Chiểu) hay Bồ Đề Hòa Phát đi học về, vỡ sách đều kẹp vào sườn xe đạp.
      Phía bên kia đường là Hòa Phát, có đường rầy xe lửa chạy song song. Ta còn thấy một phần bảng hiệu của Photo Lê Toàn. Nếu ai ở Hòa Phát xưa đều biết Photo Lê Toàn, nổi tiếng giống như Photo Bình Minh ở Cẩm Lệ vậy.
      Ngày xưa đối diện Photo Lê Toàn là cổng ra vô của phi trường Đà Nẵng, nơi có bệnh viện dã chiến của TQLC thì phải.
      Nhìn các "chú" chừng 12, 13 tuổi tức sinh năm 1957, 1958 đang học lớp đệ lục hay đệ thất chi đó.
        Photo của R. Alexander

18 tháng 4, 2024

VUA MINH MẠNG LÀM THƠ CẦU MƯA./ Minh Mang King wrote poetry to pray for rain/Le roi Minh Mang a écrit de la poésie pour prier pour la pluie

Ảnh chỉ minh họa
VUA MINH MẠNG LÀM THƠ CẦU MƯA.
Tháng 8 - mùa thu 1820 ở Kinh thành nắng nóng, vua bằng làm 02 bài thơ tả việc mong mưa rồi sai Nội các là Nguyễn Tri Phương mang đến Miếu Đô thành hoàng cầu đảo và rồi được mưa liền. Sau đó Vua sai sửa lễ Tam sinh đến miếu tạ và thưởng cho Nguyễn Tri Phương Kỷ lục một thứ.
           Theo Đại Nam Thực lục

    *Chuyện cầu mưa ở mấy trăm năm trước nghe còn được. Nay ở TK XXI mà còn nói chuyện cầu mưa thì cũng chuyện lạ thời nay!
     Lệ thường Tháng 8 mà vẫn còn nắng nóng là trái mùa. Vua chỉ làm 02 bài thơ gởi "ông trời" thì trời cho mưa.
    Không biết do quyền uy phép thuật hay gặp may mà có mưa?
Sự việc trên được chép đàng hoàng trong sử sách ắt là có thực 100% và cụ Nguyễn Tri Phương đã ghi một điểm dưới con mắt vua Minh Mạng.
Ghi chú:
*Miếu Đô thành hoàng có thể là Miếu cổ Bao Vinh?
*Tam sinh là vật tế lễ bằng bò - dê và heo.


VUA MINH MẠNG VÀ HẢI VÂN QUAN.

VUA MINH MẠNG VÀ HẢI VÂN QUAN.
    Dãy Hải Vân ngăn cách giữa Thuận Hóa và Quảng Nam, đường đi khó khăn vắng vẻ. Nhiều người muốn tìm lối đi khác khi Bộ Công cho người đi khám thì không còn lối mở nào khác hơn lối cũ. (như hiện nay).
    Vua bảo rằng: "Nếu làm lợi cho muôn đời thì công vạn, của kho cũng không tiếc, huống chi cửa quan hùng tráng ấy là nơi hiểm (yếu) tự nhiên để làm nơi che chở bảo vệ nước nhà, nếu đang cao mà làm cho thấp thì còn gì là chỗ hiểm yếu".
         Rồi dụ cho quan huyện ở kinh và quan tỉnh Quảng Nam thông sức cho dân
     "Ai muốn làm nhà hai bên đường núi thì miễn các thứ thuế và miễn đi phu. Ai không đủ sức làm nhà thì cấp tiền cho. Cốt sao từ chân cho đến đỉnh núi, hai bên đều có nhà liền nhau. Miễn sao cho người đi đường có nơi dừng chân tạm trú, đói có chỗ ăn, khát có chỗ uống".
       Kết quả có 06 hộ dân ngoại tịch ở Quảng Nam xin làm nhà ở đường núi, vua chuẩn cấp mỗi người 10 quan tiền.
          (Theo Quốc sử quán triều Nguyễn).

      *Một chủ trương đúng nhưng chỉ có 06 hộ dân hưởng ứng. Phải chi nguồn trợ cấp gấp 10 lần lúc đó thì người định cư chắc sẽ khá hơn.
     Bài thơ "Tàn tốt" của Tùng Thiện Vương ra đời 20 năm sau có câu.
"Ỷ TRƯỢNG ĐỘC CÔ SƠN TỬU ĐIẾM..."
(Chống gậy một mình tìm quán rượu - trong bài thơ Người lính thất trận) cho thấy trên dãy Hải Vân lúc đó đã có lác đác dân cư mở hàng quán sinh sống.
      Nay thì trên núi Hải Vân (phía Đà Nẵng) những khu đất rộng có "view" đẹp hướng ra biển đã mọc lên những khu dừng chân vui chơi có bán vé vào cổng!

PHƯỚC TƯỜNG - HÒA PHÁT, ĐÀ NẴNG NĂM 1970 Photo của Robert Alexander

PHƯỚC TƯỜNG - HÒA PHÁT, ĐÀ NẴNG NĂM 1970
     Các "chú" học trò trường Lê Bảo Tịnh (nay là PTCS Nguyễn Đình Chiểu) đi học về, vỡ sách đều kẹp vào sườn xe đạp.
     Phía bên kia đường là Hòa Phát, có đường rầy xe lửa chạy song song!
    Các "chú" chừng 12, 13 tuổi tức sinh năm 1957, 1958. Nhìn sang bên kia đường còn thấy bảng hiệu Photo Lê Toàn. Chỗ đó nay là gần trụ đèn tín hiệu giao thông cách Hiệu thuốc Trường Sinh chừng 200m.
     Thời điểm đó phía đối diện là cổng vào của đơn vị Mỹ.
         Photo của Robert Alexander

11 tháng 4, 2024

Mùa thu năm 1837- vua Minh Mạng cho mở khoa thi để chọn nhân tài/ 1837 - Minh Mang King opened an examination to select mandarins

Năm 1837, mùa thu - vua Minh Mạng cho mở khoa thi Hương ở 03 khu vực Thừa Thiên, Gia Định, Nghệ An.
   Khoa đó đỗ Cử nhân cả thảy 51 người.
    Trường Thừa Thiên 35 người gồm Lê Doãn Xuân, Nguyễn Tường Vĩnh, Hoàng Trọng Từ, Lê Đức, Lê Văn Đạt, Phạm Chân, Phạm Văn Tuyển, Lê Tiến Ích, Tạ Kim Vực, Trình Nho, Trần Kim Vỹ, Lê Thúc Đôn, Nguyễn Văn Dục, Trần Tiễn Thành, Thái Viết Điến, Nguyễn Văn Mưu, Lê Văn Thành, Trần Công Chính, Lê Dần, Trần Nguyên Phóng, Nguyễn Doãn Thành, Lưu Lượng, Phạm Văn Trị, Nguyễn Văn Đĩnh, Tạ Kim Pha, Mai Văn Mỹ, Lê Văn Nhượng, Phan Huy Cảnh, Nguyễn Công Tùng, Hoàng Công Tính, Bùi Đạo, Nguyễn Công Chính, Tiết Văn Hanh, Hoàng Văn Thận,Trần Ngọc Diễm. Sau đó Bộ Lễ duyệt lại truất 03 người xuống Tú tài là Nguyễn Công Tùng, Bùi Đạo , Mai Văn Mỹ (Mỹ là con trùm hát bội).
      Trường Gia Định 11 người gồm Nguyễn Văn Chiêm, Bùi Văn Phong, Nguyễn Công Dự, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Khắc Điều, Lê Văn Dự, Nguyễn Tiến Hội, Nguyễn Văn Quyển, Vũ Doãn Nguyên, Trần Thành Lập,Hoàng Mẫn Chính.
       Trường Nghệ An 05 người gồm Vương Đình Chiểu, Vũ Nguyên Danh, Nguyễn Phong, Phạm Trọng Cát, Phan Quang Nhiễu.
       Vua phê bình trường Nghệ An rằng: "Học trò Thanh Hoa, Nghệ An, Hà Tĩnh vốn có tiếng là văn học, học trò hợp thí hơn 3.000 người sao ngạch đỗ ít ỏi như thế? Triều đình mở khoa thi là muốn được nhiều nhân tài để giúp việc Nhà nước mà lại hẹp hòi. Tội của bọn Vũ Đức Khuê( Chánh chủ khảo trường Nghệ An) là không thể chối được". Vua bèn sai quan đường 06 Bộ đem hết các quyển đỗ cũng như hỏng xem xét lại, sau đó lấy thêm 15 Cử nhân nữa là: Mai Thế Tuấn, Phan Đình Phong, Đinh Viết Thận, Hồ Sỹ Tuần, Nguyễn Hữu Độ, Đặng Văn Khải, Lê Triết, Đỗ Xuân Trường, Lê Cán, Nguyễn Thái Thông, Phan Hữu Khải, Phan Đình Tuyển, Hoàng Bá Nghi, Vũ Văn Dật, Nguyễn Côn.
     Cũng chưa yên tâm, vua ra dụ sai quan tỉnh dẫn 5 người lấy đỗ trước và 15 người lấy đỗ thêm vào Kinh để sát hạch lại, bèn sai Đại học sĩ Trương Đăng Quế và Hà Quyền làm đồng Chủ khảo xét hạch trực tiếp. Kết quả đánh hỏng 05 người là Phan Đình Tuyển, Đặng Văn Khải, Lê Cán, Nguyễn Phong và Phan Đình Phong.
      Sau vụ nầy Vũ Đức Khuê và Lâm Duy Nghĩa là Chánh - Phó Chủ khảo trường Nghệ An bị giáng 01 cấp.
              Theo Quốc sử quán triều Nguyễn.

* Xem danh sách các tân khoa năm Đinh Dậu 1837, chúng ta thấy bóng dáng của tổ tiên, ông bà từng một thời khó nhọc đèn sách lai Kinh ứng thí đem sự học ra phụng sự Quốc gia.
Những tân khoa ngày đó có nhiều người sau nầy làm quan to, nắm giữ vận mệnh dân tộc mà sử sách còn nhắc tới.