ngobadung

17 tháng 4, 2026

LỄ ÔM GỐI

Mộ của tướng quân Trương Minh Giảng ở
P7 quận Gò Vấp tp HCM
ảnh của báo Thanh Niên
Tướng quân Trương Minh Giảng có công to được vua Minh Mạng gọi vào cho ngồi trên bệ dưới chân mình rồi thân mật hỏi han nói chuyện hồi lâu. Xong việc vua cho chiếc nhẫn vàng đính ngọc quý.
     Từ chuyện câu chuyện ấy triều đình (Bộ Lễ) nãy ra sáng kiến đặt ra LỄ ÔM GỐI đối với những người đặc biệt có công.
     Về sau các ông như Phạm Văn Điển, Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Phạm Hữu Tâm đều được một lần LỄ ÔM GỐI.
                 Theo Đại Nam Thực lục


* Nghĩ đây là nghi thức dành cho người có công lớn nên được vua tiếp với cử chỉ đặc biệt thương yêu tin cậy.
     "Ôm Gối" có thể là thân mật tới mức người ngồi dưới chân mà ôm đầu gối của vua chăng? Cũng là nghi thức rất thú vị trong chế độ quân chủ chuyên chế xưa điều mà người bình thường còn không được nhìn thẳng vào mặt vua nói chi "ôm gối".
     Riêng ông Trương Minh Giảng gốc người Bình Dương, vị tướng quân văn võ song toàn có công rất lớn trong việc phò chúa Nguyễn Ánh, cũng như có công lớn trong việc gìn giữ bờ cõi phương Nam.         Ông được vua Minh Mạng cử sang Miên với nhiệm vụ Trấn tây thành nguyên soái đặc trách bảo hộ Cao Miên  và ông đã làm rất tốt chuyện đó và người Miên, người Xiêm đã từng rất "ớn" ông.

Chuyện nhỏ trong cung

Ảnh cửa gương trước điện Càn Thành
Ảnh minh họa
Một ngày đẹp trời mùa thu 1837 vua Minh Mạng sai cho người phụ trách nội phủ gắn pha lê vào các cánh cửa bằng gỗ quý tại các điện như Trung Hòa, Quang Minh, Văn Minh trong Hoàng thành Huế.
     Theo Đại Nam Thực lục


*Pha lê - thứ mà sử nhắc đến trong chuyện nầy chính là gương thủy tinh rất thông dụng mà ngày nay nhà nào cũng có.
   Hồi đó lắp gương trên cửa là chuyện xa xỉ chỉ có vua và giới nhà giàu mới sắm nỗi mà thôi, chừ gương sứt vứt đầy mà công ty vệ sinh thâu lượm họ cũng ...chê!
  03 điện trên nằm trong Tử Cấm thành và đã bị tàn phá trong chiến tranh chừ chỉ còn nền gạch mà thôi!
   Những tấm "pha lê" trên cửa của Điện Càn Thành Huế (ảnh minh họa ngày nay)

Huế 1837 - vua Minh Mạng cho chỉnh trang nhà cửa lụp xụp phía cửa Chính Đông.

Chợ Đông Ba năm 1900 dưới thời vua Thành Thái

HUẾ - vào năm 1837 những nhà dân lợp tranh phên ván lụp xụp dọc theo sông Đông Ba và Gia Hội được phá để xây nhà mới. Có cả thảy 399 gian nhà tranh tre ván bị phá hủy. Dân xin tự làm lại 147 gian, Nhà nước làm 252 gian. Tất cả đều xây nhà phố có cột bằng gạch (thay tre, gỗ) tường gạch vôi lợp ngói. Mặt trước có cửa ngõ, cứ 3 gian ngăn bằng hàng rào tường gạch. Phía sau để trống 5 thước (01 thước xưa chừng 4 tấc rưỡi) để làm đường nhỏ. Xây xong gọi là phố Gia Hội và phố Đông Ba.

Nhà nước khuyến khích ai làm 02 nhà trở lên thì miễn thuế địa tô. Ai không có tiền làm nhà thì thuê lại mỗi năm nộp 20 quan, khi nộp đủ 120 quan thì được nhận nhà làm của riêng (tức sở hữu chủ).
Khi xây xong vua Minh Mạng đến xem và nói: "Làm ra phố chợ cốt để phòng hỏa hoạn, tiện cho dân ở, Nguyên (ta) không thèm tính toán tiền thuê miễn dân có lợi là được".
                Theo Đại Nam Thực lục

 

* Khu phố chợ xưa nằm gần cửa Chánh Đông, (khu vực đường Mai Thúc Loan hiện nay) được xây từ thời vua Gia Long, khác với vị trí chợ Đông Ba ngày nay. Hồi đó gọi tên chợ Quy Giả.
Sau nầy vua Minh Mạng cho xây lại nhằm:
     Một là phòng hỏa hoạn .
   Hai là đem lại bộ mặt khang trang cho chốn kinh kỳ.
   Cái hay là Dân và Nước cùng làm theo một mẫu nhà kiểu chung (quy hoạch). Ai bỏ tiền tự làm thì được miễn thuế đất. Ai không tiền thì ở nhà thuê, sau một thời gian cứ nộp đủ tiền thì làm chủ căn nhà đó (kiểu trả góp không lấy lãi)
  Một chủ trương được lòng dân của vua Minh Mạng.
  Ảnh chợ Đông Ba dưới triều vua Thành Thái 1900.

9 tháng 4, 2026

Ông trâu già.

 

Ông trâu già.
Ông trâu trong ảnh ở tuổi 23, nếu phiên qua tuổi người thì ổng chừng U100.
   Trông mặt mũi, lông, sừng đã đen xạm xác xơ. Đặc biệt cặp mắt đã lác lác, điều dễ nhận biết của tuổi già.
    Vì xả thân cày bừa suốt cuộc đời nên người chủ nghĩ tình không nỡ làm thịt. Thôi thì cứ nuôi như làm cảnh vậy.
    Cứ nghĩ người ta khi đã già ngoài 80, 90 cũng y vậy mà thôi.

5 tháng 4, 2026

Bò với cò và đám vo ve hút máu!/Cows & storks and the buzzing pets that bite in the dark/牛とコウノトリ、そして暗闇で噛みつくブンブン飛び回る害虫

Bò với cò và đám vo ve hút máu!
Hai con vật rất khác nhau về hình thể nhưng hay chơi chung với nhau như hình với bóng ngoài đồng ruộng.
    Cứ bò gặm cỏ nên châu chấu, cào cào dưới lớp đất động ổ nhảy loạn xạ thì cò cứ việc thủng thẳng đi theo đớp no bụng nên cò khỏi phải bươi như gà mà vẫn có ăn.
    Bò còn ghét nhất là loài ruồi, muỗi, ve, rận chuyên chích, hút máu. Bò cố đuổi bọn "vo ve" nhưng bất lực. Ngoài 2 lỗ tai giật giật và cái đuôi ngoe nguẩy nhưng không "xi nhê" chi với cái đám phá rối, khủng bố dai nhách đó. Chuyện nầy có cò lo, kể cả mấy con lì lợm ngoan cố bu bám trong lỗ tai hay những chỗ mà cái đuôi không thể quơ tới được cò đều "lượm" hết.
    Cho nên bò rất thích cò mà cò cũng rất ưng bò. Mối quan hệ nầy gọi là cộng sinh.
    Cò mà kết hợp với bò thì ba cái đám leo nheo như ruồi, muỗi, mòng bọ, cũng như cái đám núp lùm như dế, trùn, cào cào, châu chấu... đều bị lượm hết!
    Đáng đời cho cái lũ vo ve, núp lùm cắn trộm!









Cầu Bà Ngân nối Duy Xuyên và Hội An


Cầu Bà Ngân nối Duy Xuyên với Hội An.
   Hỏi ra mới biết Bà Ngân là người chèo đò trên đoạn sông Thu Bồn thời chiến tranh khi chỗ nầy chỉ là bến đò và chưa có chiếc cầu.
     Bà Ngân có còn sống hay cho dù đã chết mà tên bà được mọi người nhắc hằng ngày cũng quá vui và con cháu càng vui hơn vì mấy ai có được đặt tên cho một công trình dân sinh có ý nghĩa ?
    Trước đó trên 200 năm cũng có Bà Rén chèo đò, mở quán nước trên một nhánh sông cắt qua QL1 và khi có cầu, thì cầu và sông cũng được dân đặt cho tên Bà Rén cho đến nay.
    Ngoài Bà Rén, Bà Ngân, ở Núi Thành còn có cầu Bà Bầu, cầu Ông Đốc ở Hòa Liên đều do dân quý mà đặt tên.
    Họ được người dân tự nhớ ơn mà đặt chớ không phải tên hành chính do nhà chức trách quy định.

20 tháng 3, 2026

Ngôi mộ cổ đã 180 năm ở Duy Phước, Duy Xuyên.

Ngôi mộ cổ đã 180 năm ở Duy Phước, Duy Xuyên.
Theo văn bia thì mộ xây vào năm Tự Đức thứ 2, tức 1849.
   Người nằm trong mộ là cụ Đặng Đức Nguyên - vợ là cụ Dương Thị Thục Thận.
    Cụ ông sống trong thời Tây Sơn và đầu Nhà Nguyễn.
    Ngôi mộ được chôn riêng giữa ruộng chứng tỏ ông là người giàu có, có địa vị xã hội hoặc có công khai khẩn đất hoang.
    Mộ - trước có 2 trụ đứng, và tấm bình phong đặt dưới mái gạch xây vòm, xung quanh là tường xây bằng đá ong có bề dày 30cm, được tô hoa văn rất tỉ mĩ.
    Trong bia ghi toàn tộc đứng ra dựng mộ. Cho thấy người nằm đó là tiền hiền, hoặc đứng đầu tộc họ, hoặc là một vị quan có chức sắc ở địa phương nên toàn tộc mới dựng mộ.
   Hỏi một nông dân đang làm ruộng gần đó cho biết con cháu vẫn chạp mả, cúng giỗ hàng năm.
    Qua đây sẵn tính tò mò nên tìm hiểu cho biết về tiền nhân chớ chẳng phải để làm chi !