ngobadung

14 tháng 12, 2010

Dinh trấn Thanh Chiêm, thủ phủ xưa của vùng đất Quảng Nam

Dinh trấn Thanh Chiêm (ảnh chụp cuối thế kỷ XIX) ngobadung sưu tầm
  Dinh trấn Thanh Chiêm.
  Thủ phủ  xưa của vùng đất Quảng Nam

Quảng Nam với nghĩa là vùng đất rộng lớn ở phương Nam, nơi đây vốn là đất của Chiêm Thành. Đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, dân cư đông đúc. Hàng năm số thuế thu ở Quảng Nam còn hơn cả Thuận Hóa. Nên vào năm 1602, Tiên chúa Nguyễn Hoàng tuần du phương nam. Sau  khi khảo cứu vùng nầy. Tiên chúa quyết định cho lập dinh trấn Thanh Chiêm, xem như một thủ phủ quan trọng về chính trị, hành chính, quân sự, giao thông và kinh tế… chỉ sau Dinh Cát ở Thuận Hóa, để dễ bề kiểm soát cả vùng đất Quảng Nam rộng lớn từ Hải Vân vào cho đến Qui Nhơn lúc bấy giờ.
     Dinh trấn Thanh Chiêm được các thương nhân nước ngoài biết đến qua cái tên Cac Ciem hay Kẻ Chiêm. Khi các tàu buôn nước ngoài muốn ghé cảng Hội An buôn bán, họ phải làm thủ tục hành chính và chịu sự kiểm soát ở đây. Ngoài vị trí chiến lược của Dinh trấn Thanh Chiêm như đã nói ở trên. Tiên Chúa còn nhắm đến khả năng phòng thủ, một khi thế lực đàng Ngoài lớn mạnh. Nhưng trước mắt Dinh trấn Thanh Chiêm  là bàn đạp thuận lợi để thực hiện chủ trương “Nam tiến” của nhà Nguyễn trước vùng đất rộng lớn ở phía Nam.
     Dinh Trấn Thanh Chiêm theo tài liệu lịch sử nằm ở thôn Thanh Chiêm (quê hương của món mì Quảng nỗi tiếng Phú Chiêm), phủ Điện Bàn ( nay nàm giữa Thị trấn Vĩnh Điện và cầu Câu lâu , thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn , tỉnh Quảng Nam) Dinh trấn ban đầu được giao cho công tử Nguyễn Phước Nguyên (con thứ 6 của Nguyễn Hoàng) còn có tên là Chúa Sãi  trấn nhậm.
    Dinh trấn Thanh Chiêm ngày nay không còn nữa nhưng những hình ảnh hiếm hoi còn sót lại và những trang viết về dinh trấn của người đương thời đã minh chứng cho một thời kỳ vàng son của vùng đất Điện Bàn, Hội An, Quảng Nam trong quá trình mở nước của dân tộc.
Ngô Bá Dũng
 Mời các bạn xem trang ảnh của ngobadung trên Picasaweb
 Gallery of ngobadung
    

Trong cái ngõ ấy, tôi như thấy một Hội An thu nhỏ

Ngõ vắng Hội An (ảnh Ngô Bá Dũng)
Trong cái ngõ ấy, tôi như thấy một Hội An thu nhỏ.   Tác giả  Trần Kỳ Trung
Tôi qua lại cái ngõ ấy không biết bao nhiêu lần. Có một điều hay, ngõ ở Hội An thường không phải ngõ cụt, nó nối phố liền phố, đường liền đường, tạo nên những con đường ngắn nhất để người đến với người, nhà đến với nhà. Cái ngõ phố cổ Hội An tôi hay đi qua, có lẽ đã hình thành từ lâu lắm rồi, thời gian không đo được. Những dấu ấn của một thời thăng trầm, của một thời tần tảo, chịu thương chịu khó vẫn hiện hữu trong cái ngõ nhỏ này. Một ngõ nhỏ, hầu như cả ngày không hề thấy một tiếng ồn, chỉ có bước chân người đi là nghe rõ.

Trong cái ngõ ấy, tôi như thấy một Hội An thu nhỏ. Cũng một quán cà phê mái lá, mỗi buổi sáng, “ tao nhân, mặc khách” đến đây ngồi nhâm nhi ly cà phê ngào ngạt hương bên những bản nhạc Trịnh réo rắc. Cũng trong ngõ nhỏ này lại có một cửa hàng bán bánh cuốn, bánh bèo… mà khách hàng là những em học sinh cố tiết kiệm một, hai nghìn đến đây góp vào ăn chung, trong tiếng cười , tiếng nói hồn nhiên không thể lẫn vào đâu được. Tôi yêu tiếng cười hồn nhiên ấy, người lớn không thể có. Mỗi buổi sáng đi qua ngõ, tôi lại thấy một cụ già ngồi trước một hiên một ngôi nhà cổ.  Cụ ngồi dáng thư thả, nét mặt tĩnh tại, bên tách trà đang nghi ngút khói. Cụ cứ ngồi như thế, như đếm từng người qua ngõ. Gặp tôi, cụ cười nhẹ, gật đầu chào, tôi chào lại, làm tôi có cảm giác, tôi với cụ đã thân quen từ lâu.  Buổi sáng nào chuyện đó cũng lặp lại, đến độ, nếu tôi không gặp cụ ngồi đấy, lại thấy thiếu thiếu một thứ gì đó rất quý.  Đầu ngõ, buổi sáng một bà dáng mập, nét mặt hiền lại đẩy một cái xe ra bán xôi. Nắm xôi không to, có đầy đủ nhân thịt, nước chan, đậu xanh…Năm nghìn, một gói, ăn sáng vừa vặn,  khách đến lặng lẽ, nói nhẹ. Cần thì ăn tại chỗ, có mấy cái ghế nhỏ, một hai cái bàn ngồi sạch, không phiền ai. Nếu bận, gói xôi để trong hộp sạch sẽ, có ni lông bọc bên ngoài, xách treo tiện lợi. Mọi chuyện đầu ngõ có xe bán xôi đó, nhưng thật lạ, vẫn cứ tĩnh tại, không bao giờ ồn ào. Buổi tối đầu ngõ lại hình thành một quán cơm gà, cũng chừng ấy cái bàn, chừng ấy cái ghế, chỉ có người bán là khác nhưng có một điểm chung, hàng rẻ, ngon, thái độ người bán nhiệt tình, chiều khách.

Đi qua lại cái ngõ này, tôi chú ý một cái cổng cấu trúc kiểu gôtich của Pháp, phía sau là một ngôi nhà cổ hình như ít khi chủ nhà có mặt,  nên nó buồn, trầm mặc. Cái cổng có hai cánh cửa sắt đã cũ lắm rồi, những thanh sắt hình nan quạt cái còn, cái mất… chủ nhà vẫn không muốn thay. Cứ đến ngày gần tết, chiếc cổng lại được lau chùi, sơn phết lại cho mới, như muốn khoe một cái áo mới may với người qua lại ngoài cổng. Cái cổng kiểu gotích trong ngõ nhỏ y như một người lính già nua tận tụy, trung thành gác một bảo tàng cổ là cả cái ngõ nhỏ này. Trong ngõ, ẩn hiện một, hai nhà cổ có sân vườn. Cái sân vườn, từ ngõ bước vào chỉ một bước chân, nhưng đó là thế giới khác. Dăm ba bước, bước ra là một phố cổ nhộn nhịp có tây, có ta, có tiếng xì xồ…thế mà sân vườn trong ngõ nhỏ vẫn trầm mặc, có hoa, hương thơm thoang thoảng, có hòn non bộ, bên dưới những đàn cá vàng tung tăng bơi lội, một giàn hoa lý mát rượi che cả một góc sân. Có nhà, từ ngõ nhìn vào, thấy một chuồng chim câu nho nhỏ, sớm mai tiếng chim gù trong ngõ sao có cảm giác tinh khiết đến thế. Những căn nhà cổ trong ngõ, tôi thấy dáng nó như thấp xuống để mọi người nhìn rõ sự già nua, chịu đựng, thi gan với thời gian, nắng ,mưa.

Ngõ Hội An khác nhiều với ngõ Hà Nội hay Sài Gòn. Ngõ Hà Nội hay Sài Gòn rõ nhất là sự ồn ào, chật chội. Lại nữa, ở đó là sự ganh đua, cho dù chỉ là một hàng gạch mọi người cũng cố chiếm. Tôi đến ngõ Sài Gòn,  nhiều lúc để dắt được một chiếc xe  đạp cũng thấy khó. Còn ngõ Hà Nội, mỗi buổi chiều, hàng quán dọn ra ở đâu mà nhiều đến thế. Tôi đi qua ngõ, hay đang đi qua một cái chợ nho nhỏ, đủ thứ mùi xộc vào mũi. Ấy vậy ở Hội An, nếu nói đến ngõ đó là một hình ảnh văn hoá đặc thù, khó lẫn của con người Hội An. Không ồn ào, xô bồ, dễ nhường nhịn, thấy sự thoáng đãng của không gian. Ngõ chật, một người nép qua bên, để người kia đi qua. Có gặp cả trăm lần, vẫn gật đầu chào nhẹ, nở một nụ cười thân thiện. Trong ngõ không bao giờ to tiếng với nhau, nên cứ đi trong ngõ nhỏ, có khi lại thấy yên lặng mà nhẹ cả người, cho dù ngoài kia là một phố lớn ồn ào. Trong ngõ nhỏ, tôi thích hàng rào bằng cây được chủ nhà tỉa tót công phu. Cái hàng rào xanh bằng cây uốn luợn theo chiều dài của ngõ, không làm cho người ta thấy ngõ chật mà chỉ thấy mát, xanh,  thơm, dừng lại thưởng thức thật lâu.
Ngõ Hội An cũng là một kỷ niệm rất nhớ, nếu tôi đi xa…
Trần Kỳ Trung
Nguồn:kytrungtran.com

i

2 tháng 12, 2010

Cuộc hôn nhân có một không hai trong lịch sử dân tộc

Dấu tích một vương triều đã tàn lụi (ảnh Ngô Bá Dũng)
     Cuộc hôn nhân có một không hai trong lịch sử dân tộc
Năm 1301 vua Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con là Trần Anh Tôn, nhân dịp nầy các nước nhỏ lân bang, trong đó có Chiêm Thành đã cử một đoàn đến Thăng Long chúc mừng tân vương. Khi đoàn về nước, Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tôn cùng đoàn tùy tùng liền thực hiện một chuyến thăm lân bang kéo dài đến…9 tháng!. Một thời gian thăm viếng kỷ lục của một nguyên thủ quốc gia đối với nước lân bang. Đủ biết Chiêm quốc phải tốn kém một khoản ngân sách rất lớn nhưng vẫn “bấm bụng” chăm lo hầu hạ “ cha của vua” và đoàn tùy tùng hàng trăm người rất chu đáo.     Không biết bên trong mục đích thăm viếng nầy còn ý đồ nào khác trong quá trình “Nam tiến” của Đại Việt với Chiêm Quốc sau nầy ?.
     Nhưng sau chuyến thăm ấy là cuộc hôn nhân “đổi đất” có một không hai trong lịch sử mở nước của dân tộc! Chế Mân, một ông vua cương nghị đã từng lãnh đạo nhân dân Chiêm Thành ngăn chặn đoàn quân Mông Cổ xâm lược trước đó nhưng lại là một vị vua si tình. Vua đã có hoàng hậu Tapasi và hàng trăm cung nữ xinh đẹp nhưng nghe đoàn sứ giả nói về các công chúa trong cung vua Đại Việt, vua Chế Mân cũng quyết cưới cho kỳ được một nàng, và …Thái Thượng Hoàng cũng chỉ chờ có vậy. Sau chuyến thăm lân quốc về, lại có đoàn sứ Chiêm gồm 100 người do Chế Bồ Đài dẫn đầu với nhiều mâm vàng bạc, châu báu sang Đại Việt làm lễ cầu hôn cho vua Chế Mân nhưng đến 4 năm sau vẫn chưa nên duyên “Loan Phụng” với công chúa Đại Việt vì có nhiều ý kiến không tán đồng. Chế Mân nôn nóng và đề nghị cắt 2 châu Ô, Lý tương đương 4 tỉnh bây giờ là Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam để làm quà sính lễ. Một cuộc hôn nhân quá đắt ! Vua Trần Anh Tôn quyết định gã người em gái của mình là Huyền Trân cho Chế Mân. Tuy nhiên cuộc hôn nhân giữa nàng công chúa “mặt hoa da phấn” Đại Việt với ông vua Chiêm giàu có với quà sính lễ “khủng” vẫn bị nhiều triều thần phản đối đến nỗi ngoài dân gian ai cũng biết. Vì vậy có câu:
"Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo”
      Cái diễm phúc mà vua Chế đánh đổi lại quá ngắn, chỉ 2 năm sau ông qua đời, nhưng uất hận mà vua Chế còn mang xuống tuyền đài là nàng Huyền Trân đã không chịu lên giàn hỏa thiêu cùng ông mà lại trở về Đại Việt cùng trong vòng tay người yêu cũ là Trần Khắc Chung trên một chiếc thuyền lớn do vua sai đi đón về. Thuyền và tình lênh đênh trên biển hơn hai tháng trời mới về đến Thăng Long!
       Cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân và Chế Mân đã mang về cho Đại Việt một dãi giang sơn rộng lớn, làm cho con đường “nam tiến” của dân tộc bớt đi rất nhiều xương máu.


“Năm tê trong lúc sang Xuân
Tôi theo Công Chúa Huyền Trân tôi lên đường
Đường máu xương đã lắm oán thương
Đổi sắc hương lấy cõi giang sơn”
Lời bài hát “Trên đường cái Quan” của nhạc sĩ Phạm Duy đã nói lên tâm trạng và ý nghĩa của cuộc hôn nhân có một không hai trong lịch sử mở nước của dân tộc Việt Nam.


                                                                       Ngô Bá Dũng
http://ngobadung.blogspot.com/